Các tiêu chuẩn giày bảo hộ nhập khẩu cho CN hóa học

Tại các công trường xây dựng, nhà máy công nghiệp, hầm mỏ khoáng sản… Những nơi mà đôi chân người lao đông thường xuyên phải tiếp xúc với nhiều môi trường khác nghiệt, các vật thể có thể gây ảnh hưởng xấu.

Việc lựa chọn trang thiết bị bảo vệ cho cho toàn bộ cơ thể và đặc biệt là đôi chân là bắt buộc phải có.

Chúng sẽ hạn chế được nhiều rủi ro, giảm thiếu mức độ nghiêm trọng xuống mức thấp nhất có thể.

Thiên Bằng, đơn vị chuyên cung cấp các mẫu giày bảo hộ cao cấp nhập khẩu hàng đầu hiện nay. Được người sử dụng rất tin dùng đặc biệt là các công nhân, kỹ sư xây dựng. Phổ biến nhất có thể kể đến các mẫu như Jogger Bestrun, Redcap hay D&D…

Chúng có những đặc điểm hoàn toàn khác biệt so với các mẫu giày bảo hộ thông thường.

  • Lớp đế cao su dưới cực kỳ dày dặn, cách điện tuyệt đối.
  • Giảm sóc tối đa, ngay cả khi bề mặt tiếp xúc không ổn định.
  • Chống đâm xuyên 100%, bất kể bị va chạm với các vật thể sắc bén nhất.
  • Ma sát bám dính cực tốt, chống trơn trượt vượt trội
  • Lỗ thông khí dưới lót giày, giúp mặt bàn chân thoáng hơn.
  • Mũi thép Steel, tấm lá chắn chống va cham đầu bàn chân an toàn.

Điểm qua một số mẫu giày cao cấp nhập khẩu chính hãng.

K2 Think Safety, giày bảo hộ Hàn Quốc chính hãng.

Chất liệu da cao cấp, tổng hợp, đế cao su tự nhiên, chống trơn trượt tĩnh điện…

Giày Safety Jogger Bestrun S3 nhập khẩu trực tiếp từ vương quốc Bỉ.

Giày bảo hộ D&D mã 08818 nhập khẩu chính hang Singapore.

Giày được chính phủ Singapore sử dụng cho cảnh sát, quân đội và nhiều ngành đặc thù khác.

Giày bảo hộ cao cấp, được nhập khẩu ngoài nước hiện nay không còn xa lạ thị trường tiêu dùng Việt Nam. Mức độ sử dụng và tin dùng càng ngày càng tăng lên theo nhu cầu công việc.

Chất lượng sản phẩm tại Thiên Bằng luôn được kiểm đinh nghiêm ngặt rõ ràng, cam kết chuẩn chất lượng, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn từ châu Âu đến Mỹ và Hàn Quốc…

Chi tiết: http://baoholaodongthienbang.com/giay-bao-ho-cao-cap-nhap-khau/

Không thể bỏ trống vấn đề an toàn lao động tại khu vực phi chính thức

Luật An toàn, vệ sinh lao động sẽ có tác động rất lớn đến việc đảm bảo an toàn, sức khỏe cho người lao động, liên quan đến trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, các ngành, các cấp và đặc biệt là người lao động tại những khu vực phi chính thức.
Xung quanh dự thảo Luật An toàn vệ sinh lao động đang được kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa 13 xem xét và thông qua, đại biểu Quốc hội Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội đã có cuộc trao đổi với báo chí nhằm hiểu rõ hơn các nội dung trên.
7Những người thợ đang treo đu giữa không gian để lau những ô cửa kính mà không hệ có mũ bảo hộ tránh vật phía trên
– Thưa đồng chí, dự thảo Luật An toàn vệ sinh lao động có mở rộng đối tượng lao động phi chính thức, vậy đồng chí có ý kiến về vấn đề này như thế nào?
Đại biểu Bùi Sỹ Lợi: Chúng ta biết rằng tình hình tai nạn lao động vì nghề nghiệp trong thời gian qua diễn biến rất phức tạp, đứng thứ 2 sau tai nạn giao thông, ước tính mỗi năm trên 600 người chết nhưng thực tế theo báo cáo của ngành Y tế có thể gấp 3, tức là khoảng 1.700 người chết do tai nạn lao động.
Đây là vấn đề hết sức phức tạp, nhưng theo Quy định tại chương 9 của Bộ luật Lao động thì chúng ta mới điều chỉnh công tác an toàn vệ sinh lao động cho khu vực có quan hệ lao động (tức là khoảng 17 triệu lao động) trên tổng số gần 54 triệu lao động. Có nghĩa chúng ta bỏ trống hoàn toàn khu vực không có quan hệ lao động chưa được điều chỉnh bởi Luật An toàn vệ sinh lao động.
Chúng tôi dự báo khoảng 37 triệu người trong đó 24 triệu lao động tại khu vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Tình trạng tai nạn lao động ở khu vực này rất phức tạp, lần này chúng ta xây dựng một bộ luật hoàn thiện như thế này thì không có lý gì chúng ta không điều chỉnh tất cả lực lượng lao động theo đúng tinh thần quan điểm của điều 35 Hiến pháp 2013, nghĩa là mọi người lao động được làm việc trong điều kiện môi trường an toàn.
– Tuy nhiên đối tượng lao động này thường là người nghèo và khả năng tham gia rất khó?
6Thiếu quần áo bảo hộ LD, dây an toàn cũng như giày bảo hộ công trường xây dựng, lao động tự do đang tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ tai nạn.
Đại biểu Bùi Sỹ Lợi: Khi chúng ta xây dựng luật này thì đại biểu Quốc hội và người dân đều cảm thấy rằng tính khả thi là việc cần phải xem xét. Bởi vì chính trong khu vực có quan hệ lao động mà chúng ta vẫn thực hiện chưa tốt, tính tuân thủ pháp luật chưa cao, tai nạn lao động vẫn diễn ra phức tạp.
Đơn cử, chỉ mấy ngày gần đây tại Hà Nội đã có 3 vụ tai nạn lao động xảy ra như sập cần cẩu, sập giàn giáo đường sắt… rõ ràng khu vực có quan hệ lao động đã như vậy thì khu vực không có quan hệ lao động sẽ càng phức tạp hơn và đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước và bản thân người sử dụng lao động phải hết sức quan tâm để chúng ta điều chỉnh mối quan hệ này.
Chúng ta thấy, khu vực không có quan hệ lao động thì quá trình tham gia vào việc Bảo hiểm tai nạn lao động cực kỳ khó khăn, do vậy chúng ta phải khuyến khích và nhà nước phải có sự hỗ trợ, để người nghèo và người khó khăn có thể tham gia.
Trong dự thảo luật An toàn Vệ sinh lao động lần này có một ý rất quan trọng đó là tất cả những người lao động trong khu vực không có quan hệ lao động nếu làm những công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh lao động thì bắt buộc người sử dụng lao động phải huấn luyện cho người lao động trước khi làm việc.
Rõ ràng chúng ta đang đi tới hướng là Nhà nước phải hỗ trợ và có kinh phí để huấn luyện cho người lao động trong khu vực không có quan hệ lao động, Nhà nước và chính quyền địa phương phải vào cuộc, đây là một quy định về trước mắt chưa đi vào quỹ đạo đúng đắn nhưng lâu dài thì phải bảo đảm an toàn cho họ nhằm bảo đảm sự bình đẳng chung.
– Về đề xuất tăng lực lượng thanh tra lao động cấp huyện, quan điểm của đồng chí về vấn đề này thế nào?
Đại biểu Bùi Sỹ Lợi: Theo tôi rất cần thiết phải tăng thanh tra lao động cho khu vực cấp huyện vì hiện với 487 thanh tra lao động của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội sẽ không bao quát được 54 triệu lao động, 500.000 doanh nghiệp và các cơ sở lao động tư nhân như hiện nay.
Tuy nhiên, việc điều chỉnh này sẽ làm số lượng biên chế tăng thêm khoảng 800-1.000 thanh tra viên nhưng thực chất thì mỗi huyện chỉ tăng thêm 1 thanh tra viên, nơi nào lớn được 2 người.
Vấn đề không phải nhiều hay ít thanh tra mà quan trọng là kỹ năng thanh tra, năng lực thanh tra và biện pháp thanh tra các vụ tai nạn lao động. Chính phủ đến giờ phút này vẫn có mong muốn như vậy và Ủy ban các vấn đề xã của Quốc hội sẽ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội để lấy phiếu ý kiến các đại biểu quốc hội.
Nếu các đại biểu quốc hội ủng hộ cho phương án có thanh tra lao động cấp huyện thì chúng ta phải ủng hộ tiếp cho Chính phủ có thêm biên chế để làm việc trên.

Hà Nội: Cần tăng tuyên truyền về an toàn lao động

Mặc dù các cấp, các ngành, tổ chức Công đoàn Thủ đô và các doanh nghiệp đã có nhiều biện pháp thiết thực phòng ngừa TNLĐ và bệnh nghề nghiệp, song công tác ATVSLĐ trên địa bàn thành phố vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại và là một trong 10 địa phương có số vụ tai nạn lao động, cháy nổ cao nhất cả nước, đặc biệt TNLĐ chết người.

4Đây là đánh giá của Liên đoàn lao động (LĐLĐ) TP.Hà Nội tại hội thảo “Đánh giá thi hành pháp luật về ATVSLĐ giai đoạn 1995-2012 và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn”

Thời gian qua, cùng với các cơ quan Nhà nước và chính quyền đồng cấp, tổ chức công đoàn Thủ đô đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực, cụ thể nhằm thực hiện hiệu quả công tác an toàn vệ sinh lao động. Hàng năm, các cấp công đoàn đã tập trung tuyên truyền các chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác an toàn vệ sinh lao động đến với người lao động; tổ chức hội thi an toàn vệ sinh viên giỏi; in ấn hàng vạn ấn phẩm, tài liệu có nội dung về an toàn vệ sinh lao động để phát đến tay người lao động…

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được sau 18 năm thi hành pháp luật ATVSLĐ, công tác ATVSLĐ trên địa bàn vẫn còn những tồn tại, hạn chế đó là: Tình hình tai nạn trên địa bàn thành phố vẫn diễn biến phức tạp và còn ở mức cao, Hà Nội vẫn là một trong 10 địa phương có số tai nạn lao động và cháy nổ cao nhất cả nước, đặc biệt là tai nạn lao động chết người. Chỉ riêng 9 tháng đầu năm 2014 trên địa thành phố Hà Nội đã để xảy ra 142 vụ TNLĐ làm 156 người bị nạn, trong đó TNLĐ chết người là 31 vụ làm 35 người chết, 10 người bị thương nặng.

Nguyên nhân của các vụ TNLĐ cháy nổ được đánh giá, chủ yếu xuất phát từ sự vi phạm pháp luật về ATVSLĐ của người sử dụng lao động và người lao động. Nhiều doanh nghiệp chưa đảm bảo các điều kiện làm việc an toàn, chưa trang bị đầy đủ các phương tiện như quần áo bảo hộ, dây an toàn hay giày bảo hộ cao cấp cho người lao động; chưa quan tâm khám sức khỏe định kỳ cho người lao động. Bên cạnh đó, trình độ nhận thức, trình độ văn hóa, tác phong công nghiệp của một bộ phận người lao động chưa cao, còn có hiện tượng làm bừa, làm ẩu, coi thường tính mạng bản thân, coi thường nguy hiểm, vi phạm các quy định, nội quy ATVSLĐ trong quá trình làm. Công tác thanh tra, xử lý các doanh nghiệp vi phạm về lĩnh vực ATVSLĐ của các cơ quan quản lý Nhà nước còn chưa nghiêm, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe nên tình trạng vi phạm về pháp luật BHLĐ còn diễn ra nhiều. Tổ chức Công đoàn một số nơi chưa quan tâm đúng mức đến công tác BHLĐ. Vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động trong công tác ATVSLĐ ở một số CĐCS còn mờ nhạt. Việc tổ chức hoạt động của mạng lưới an toàn vệ sinh viên và phong trào thi đua ở một số đơn vị còn hình thức và hiệu quả chưa cao. Đội ngũ cán bộ làm công tác ATVSLĐ của tổ chức Công đoàn và các cơ quan quản lý Nhà nước còn thiếu, một số cán bộ trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế hiện nay.

Bên cạnh đó, hệ thống các văn bản dưới Luật chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập và khó đi vào thực tế, các thủ tục hành chính về lĩnh vực BHLĐ còn rườm rà và thiếu thực tế như: Quy định về thời gian một lần huấn luyện định kỳ ATVSLĐ, doanh nghiệp rất khó thực hiện; điều kiện để người lao động được hưởng chế độ bồi dưỡng độc hại bằng hiện vật còn chưa hợp lý; Công tác đo kiểm tra môi trường lao động hàng năm dễ tạo cơ chế tiêu cực và thiếu khách quan, ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động; việc thực thi các quyết định xử phạt hành chính về lĩnh vực BHLĐ còn thiếu các cơ chế để thực hiện.

Để nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm an toàn cho người lao động, theo đồng chí Đặng Minh Thuần, Phó Chủ tịch LĐLĐ TP. Hà Nội cần phải: Thường xuyên tuyên truyền phổ biến nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, CNVCLĐ về chính sách, pháp luật lao động, đặc biệt là các quy định mới về công tác ATVSLĐ. Động viên cán bộ, CNVCLĐ phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật gắn liền với vấn đề ATVSLĐ – PCCN trong lao động sản xuất và bảo vệ môi trường. Đồng thời kiện toàn bộ máy làm công tác ATVSLĐ của các cấp công đoàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới An toàn vệ sinh viên, thường xuyên tập huấn nâng cao trình độ hiểu biết về công tác ATVSLĐ – PCCN. Bên cạnh đó, cần phối hợp với cơ quan quản lý đồng cấp đổi mới hình thức, nội dung và phương pháp huấn luyện về công tác ATVSLĐ cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng loại hình sản xuất kinh doanh. Cùng với đó, phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xây dựng chế tài đủ mạnh và kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm… Đồng thời đưa ra các kiến nghị, đề xuất với TP và Trung ương. Trong đó, nhấn mạnh đến việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, nâng cao mức xử phạt đối với vi phạm; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn đánh giá mức độ an toàn, chưa an toàn và có cơ chế ràng buộc, nhằm tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan liên ngành.

Cần nhiều hơn giải pháp đảm bảo an toàn lao động

Thời gian qua tai nạn lao động xảy ra nhiều liên quan đến ngành xây dựng, xây lắp công trình dân dụng và công nghiệp cướp đi tính mạng của nhiều người và thiệt hại nghiêm trọng về tài sản của doanh nghiệp. Trước thực trạng này, tại hội thảo ngành xây dựng, triển lãm quốc tế Vietbuild TP.HCM các đơn vị đã đưa ra nhiều giải pháp mới đảm bảo an toàn trong lao động.

Tại hội thảo nhiều đơn vị đã đưa ra những ưu, nhược điểm của biện pháp thi công truyền thống như sử dụng dàn giáo không đúng thiết kế, công nhân thiếu thiết bị bảo hộ và kĩ năng chuyên môn dẫn đến các tai nạn không đáng có.

Đồng thời, hội thảo đưa ra các giải pháp, nguyên vật liệu thi công tiên tiến, hướng tới khắc phục những nhược điểm trong thi công truyền thống, rút ngắn thời gian thi công, giảm thiểu được chi phí và hơn hết là đảm bảo an toàn tuyệt đối cho những người làm việc tại công trình. Cụ thể, cần trang bị mẫu quần áo bảo hộ xây dựng quy chuẩn cho công nhân, dây an toàn khi làm việc trên cao.

3Thúc đẩy đề án phát triển làng nghề truyền thồng gắn với phát triển du lịch

Tỉnh Quảng Nam dự kiến sẽ tạo thêm việc làm cho khoảng 3.000 lao động nông thôn tại các làng nghề, làng nghề truyền thống có gắn với các hoạt động du lịch; và nâng mức thu nhập các hộ hoạt động làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch từ 1 – 2 lần so với sản xuất thuần nông.

Thông qua hỗ trợ đầu tư một số hạ tầng, nguồn nhân lực và công tác xúc tiến, kết nối, Quảng Nam phấn đấu trong vòng 5 năm tới.

100% làng nghề của tỉnh có lao động được đào tạo qua các nghiệp vụ; 100% làng nghề được hỗ trợ công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, tham gia các hoạt động quảng bá, giới thiệu sản phẩm tại các hội chợ, triển lãm, Festival di sản Quảng Nam; 100% làng nghề, làng nghề truyền thống được hỗ trợ và hướng dẫn thực hiện việc bảo vệ môi trường làng nghề theo quy định.

Các sản phẩm hỗ trợ, giày bảo hộ lao động mũi sắt hay mũ bảo hộ lao động công trường…

Môi trường lao động tự do: Tiềm ẩn rủi ro

Công tác giám sát môi trường lao động và an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) của các doanh nghiệp hiện nay dù có chuyển biến tại một số doanh nghiệp song chưa thực sự được quan tâm nhưng chưa đúng mức ở nhiều nơi.

Anh Trần Đại Dương (nguyên là công nhân tại Công ty T.V. ở quận 9- TPHCM) đến nay vẫn nhớ như in vụ tai nạn lao động khiến anh bị gãy chân. Với ước mơ có cuộc sống tốt ở thành phố, anh Dương đã đưa vợ con từ Cần Thơ lên TP.HCM để sinh sống. Với tay nghề cao, anh là thợ chính tại nhiều công trình xây dựng và có thu nhập đảm bảo cho cuộc sống gia đình.
 
Tuy nhiên, từ khi bị tai nạn lao động, giấc mơ sống ở thành phố của gia đình anh Dương không thành vì không thể trang trải được cuộc sống. “Từ chỗ là lao động chính trong gia đình, tôi bị tai nạn bị gãy chân trái và vẹo cổ chân phải khi đang thi công lắp đặt nhà xưởng. Trong lúc đang thi công thì giàn giáo sập. Lỗi là do công ty, nếu đơn vị quan tâm các vấn đề an toàn lao động thì tôi đã không bị thương tật như hôm nay.”, anh Dương chia sẻ.
7

Thực tế, việc giám sát môi trường lao động hiện ít được quan tâm, nhất là ở các cơ sở sản xuất nhỏ. Tại xưởng gia công của một doanh nghiệp chuyên sản xuất mũ bảo hiểm trên địa bàn quận 6-TP.HCM, anh Hoàng Văn Dũng (40 tuổi), tay thoăn thoắt nhấc mẫu mũ bảo hiểm bằng nhựa vừa được ép ra khỏi khuôn, cho biết anh làm công việc này đã gần 5 năm.
 
Đứng quan sát anh làm việc chưa được 10 phút, mùi nhựa hăng hắc xộc vào mũi khiến chúng tôi khó chịu, thở không nổi. Vậy mà gần 10 người công nhân đang làm việc tại đây không hề sử dụng khẩu trang cũng như các phương tiện bảo hộ lao động. “Mùi khó thở quá, sao anh không đeo găng tay, khẩu trang, mặc quần áo bảo hộ ?” – chúng tôi hỏi thì anh Dũng đáp gọn lỏn: “Đeo vào vướng víu lắm, cũng đâu có ai bắt phải đeo đâu.”
 
Trong vai người đi xin việc, chúng tôi đến một xưởng xẻ gỗ tư nhân nằm trên đường An Phú 18, thị xã Thuận An (Bình Dương). Tại xưởng gỗ có khoảng 6 người đang làm việc. Người mặc áo, người lưng trần. Ai cũng mồ hôi nhễ nhại, quần áo bám đầy bụi, mạt cưa và tiếng cưa máy rít lên nghe rùng rợn.
 
Tranh thủ thời gian chờ ông chủ xưởng đến xem hồ sơ, chúng tôi bắt chuyện với một thanh niên đang đo những xúc gỗ ngay gần cửa xưởng. Biết chúng tôi đễn xin việc, người thanh niên tên Bùi Văn Nam (38 tuổi, quê Hoằng Hóa, Thanh Hóa), nói: Xin việc khác đi chú em. Tướng tá chú vậy chắc không chịu nỗi được 3 ngày đâu, công việc này phải người có sức khỏe mới trụ được, anh khuyên thật đấy.
 
Quả thực khi nhìn thấy những người thợ vận dụng “cơ bắp” khiêng những súc gỗ đặt lên bàn cưa mà không có một thiết bị máy móc nào hỗ trợ khiến tôi ái ngại. Theo anh Nam, công việc không những nặng nhọc mà còn nguy hiểm, sơ sẩy cái là dập tay, dập chân như chơi.
 
 “Khi có người bị tai nạn thì ông chủ có hỗ trợ tiền bạc gì không và anh có được tham gia chế độ bảo hiểm nào không?” – tôi hỏi thì anh Nam cho biết mọi người làm ở đây đều thỏa thuận bằng miệng, không có ký hợp đồng lao động nên khi xảy ra chuyện thì mình tự chịu.
 
 Nếu còn làm được việc thì ông chủ cho làm không thì nghỉ. Trước giờ đâu thấy có ai kiểm tra mấy vụ đóng bảo hiểm, an toàn lao động đâu, ở đây mình thấy trả lương được thì làm thôi chứ đâu có mấy chuyện đóng bảo hiểm, trang bị bảo hộ. 
 
Xây dựng là một trong những ngành có tỷ lệ tai nạn lao động cao. Trên thực tế, có tới hơn 80% công nhân trong ngành xây dựng là lao động thời vụ, không ổn định nên có tâm lý ngại tham gia huấn luyện an toàn vệ sinh lao động. Những thợ xây tự do thường xuất phát từ thợ phụ, trình độ lao động chưa cao, chỉ quen làm việc dựa vào kinh nghiệm.
Trong khi đó, cai thầu là những người trực tiếp nhận người- nhận việc thì phần lớn lại thiếu trình độ quản lý, thực hiện tuyển dụng đơn giản. Ông Nguyễn Văn Thái, là cai thầu đã hơn 10 năm nay, cho biết cho biết thi công chủ yếu dựa vào kinh nghiệm là chính chứ không qua đào tạo. Về trang bị bảo hộ lao động thì có gì dùng nấy chứ không theo chuẩn nào.
 
 “Nếu trang bị đúng quy chuẩn thì phải tốn thêm chi phí nên chúng tôi có gì dùng cái đó. Thực sự an toàn lao động rất quan trọng nhưng đó là với các công trình lớn, còn nhưng chúng tôi chỉ chuyên thì công các công trình nhỏ ít tiền thì việc trang bị đầy đủ bảo hộ lao động cũng chưa cấp bách lắm.”, ông Thái nói. Qua đó nói lên những nguy hiểm khi lao động tự do.
Xem thêm sản phẩm bảo hộ lao động: Giày bảo hộ cao cấp hay mũ bảo hộ giá rẻ.

Khó “sốc” lại thị trường lao động sang Qatar và nhưng vướng mắc.

Từng là thị trường xuất khẩu lao động chủ lực, nhưng giờ đây không mấy lao động Việt Nam muốn sang Qatar làm việc do lương thấp, điều kiện làm việc khắc nghiệt, khiến thị trường này khó có thể lấy lại “hào quang” đã mất.

Trong những năm 2010 trở về trước, cùng với 5 nước vùng vịnh khác là Các tiểu Vương quốc A-rập thống nhất (UAE), Oman, Kuwait, Bahrain và Saudi Arab, Qatar là một trong những thị trường xuất khẩu lao động chủ lực của Việt Nam.

1Lao động Việt Nam làm việc tại nhà máy ở Qatar

Có đến 40 doanh nghiệp xuất khẩu lao động tham gia khai thác thị trường này, mỗi năm cung ứng cho phía Qatar vài nghìn lao động.

Lúc cao điểm, có tới hơn 10.000 lao động Việt Nam làm việc tại Qatar.

Tuy nhiên, do tình trạng lao động Việt Nam bỏ trốn, vi phạm pháp luật, thậm chí lập băng đảng để trộm cướp tại Qatar ngày càng gia tăng.

Vì vậy, từ giữa năm 2008, số lượng lao động Việt Nam sang Qatar làm việc liên tục giảm và đến nay, mỗi năm chỉ còn vài trăm lao động sang Qatar làm việc.

Theo Phó Cục trưởng Cục Quản lý Lao động ngoài nước (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) Đào Công Hải, đó không phải là nguyên nhân duy nhất khiến lượng lao động sang Qatar sụt giảm thảm hại.

Một nguyên nhân khác, theo ông Hải là do điều kiện làm việc tại Qatar rất khắc nghiệt khi thời tiết nắng nóng quá gay gắt, nhiệt độ thường xuyên ở mức trên 40 độ khiến nhiều lao động Việt Nam không thích ứng được vì sức khỏe kém.

Tình trạng lao động Việt Nam tại Qatar bỏ trốn, vi phạm pháp luật cũng có nhiều nguyên nhân. Qatar là một nước đạo hồi với nền văn hóa, ẩm thực khác biệt khá lớn với Việt Nam, rất ít hình thức vui chơi, phim ảnh, giải trí. Ngoài ra, nhiều lao động Việt Nam chịu áp lực lớn do phải chịu mức chi phí sang làm việc khá tốn kém khi phải vay lãi, tiền vé máy bay sang Qatar cũng đắt vì chặng dài.

Vì vậy, rất nhiều lao động Việt Nam tại Qatar tổ chức nấu rượu để bán (Qatar cấm bán rượu) vì lợi nhuận cao, bỏ trốn ra ngoài làm việc, uống rượu, trộm cắp gây mất an ninh trật tự, tạo hình ảnh xấu về lao động Việt Nam.

Bên cạnh đó, do phần lớn các đơn hàng lao động từ Qatar là lao động phổ thông, yêu cầu tuyển dụng khá đơn giản nên khi tuyển dụng, các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đều làm rất qua loa, tuyển ồ ạt mà không làm tốt công tác định hướng, giáo dục cho lao động.

Do đó, Qatar là một trong những thị trường mà lao động Việt Nam vi phạm pháp luật nhiều nhất. Cứ 10 người sang Qatar thì tới 8 người bỏ trốn, bán rượu lậu, say rượu, trộm cắp và nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác.

Từ năm 2007 đến 2009, phía Qatar đã 3 lần ngừng cấp visa cho lao động Việt Nam. Việc cung ứng lao động vì vậy liên tục bị gián đoạn, giảm dần về số lượng. Hầu hết trong số hơn 10.000 lao động làm việc tại Qatar trước đây cũng đã về nước.

Tuy nhiên, tại kỳ họp lần thứ nhất Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam – Qatar vừa tổ chức tại Doha (Qatar) mới đây, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Việt Nam và Bộ Lao động Qatar đã thống nhất tiếp tục thúc đẩy hợp tác về lao động.

“Qatar thực tế vẫn là một thị trường rất lớn và tiềm năng. Nếu các doanh nghiệp xuất khẩu lao động làm chặt chẽ khâu tuyển dụng thì vẫn còn hy vọng sốc lại thị trường này”, Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Nguyễn Thanh Hòa cho biết.

Phó Cục trưởng Đào Công Hải cho biết, thực tế hiện nay mỗi năm Qatar vẫn cần khoảng 100.000 lao động trong ngành xây dựng, do nước này đang triển khai hàng chục dự án xây dựng sân bay, cảng nước sâu, cao ốc, hạ tầng đường bộ khổng lồ với số vốn vài chục tỷ USD.

Mức lương cho ngành xây dựng khoảng từ 350 – 400 USD/tháng. Ngoài ra, Qatar cũng đang có nhu cầu khá lớn về lao động giúp việc gia đình. “Thế nhưng, cái khó hiện nay là lao động Việt Nam đang chịu sự cạnh tranh rất lớn từ lao động các nước như Pakistan, Sri Lanka, Bangladesh, Trung Quốc…

Họ chăm chỉ, sức khỏe tốt hơn, ít vi phạm pháp luật, thậm chí sẵn sàng chấp nhận mức lương thấp từ 200-300 USD/tháng mà vẫn cảm thấy hài lòng”, ông Hải cho biết. Ngược lại, lao động Việt Nam vài năm trở lại đây chỉ muốn sang làm việc ở các thị trường có thu nhập cao, điều kiện làm việc tốt hơn như Hàn Quốc, Nhật Bản…, nên không mặn mà với công việc tại Qatar vì lương thấp, điều kiện làm việc quá khắc nghiệt. Trang bị đầy đủ quần áo bảo hộ lao động nhưng lai không theo tiêu chuẩn của Việt Nam.

Từ góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Hoàng Anh, đại diện Công ty cổ phần Xuất khẩu lao động COLECTO cho biết, công ty có đăng tuyển hơn 100 lao động ngành xây dựng (thợ hàn, thợ giàn giáo, lắp đường ống…) cho Qatar từ tháng 3 đến nay với mức lương từ 350-500 USD tùy trình độ, nhưng đến nay vẫn không tuyển đủ.

“Không chỉ Qatar mà đơn hàng ở các nước vùng Trung Đông khác giờ cũng khó tuyển dụng, do lao động sợ điều kiện làm việc vất vả, lương lại không cao. Họ chỉ mong đến Hàn Quốc, Nhật Bản với mức lương nghìn đô. Thế nên không còn mấy doanh nghiệp trụ lại được với thị trường này”, ông Hoàng Anh chia sẻ. Với các nước phát triển như Nhật Bản hay Hàn Quốc, việc trang bị những đôi giày Jogger, xp abc là điều rất dễ dàng.

Chính vì vậy, theo Phó Cục trưởng Đào Công Hải, tổng số lao động Việt Nam đang làm việc tại Qatar cũng chỉ khoảng 3.000 người. “Từ đầu năm đến nay chỉ có vài trăm lao động xuất cảnh sang Qatar làm việc. Thế nên, việc sốc lại thị trường này hoàn toàn không đơn giản”, ông Hải thừa nhận.

Một số quy định mới trong Luật An toàn, vệ sinh lao động

Luật An toàn, vệ sinh lao động đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 9, khóa XIII.

thiet bi

Luật An toàn, vệ sinh lao động gồm 7 chương, 94 điều, trong đó, có một số chính sách lớn, điểm mới như sau:

Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

So với quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Bộ luật lao động năm 2012, Luật an toàn, vệ sinh lao động quy định rộng hơn, bao quát hơn và cụ thể hơn các hoạt động về an toàn, vệ sinh lao động. Ngoài các quy định trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, phạm vi điều chỉnh của Luật còn bao gồm cả các quy định về tổ chức quản lý công tác an toàn, vệ sinh lao động trong cơ sở sản xuất, kinh doanh, chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… Công tác an toàn, vệ sinh lao động liên quan đến tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động lao động, sản xuất. Chính vì vậy, đối tượng áp dụng của Luật An toàn, vệ sinh lao động là người lao động đang có việc làm bao gồm cả người lao động có quan hệ lao động được quy định tại Bộ luật lao động (thể hiện qua hợp đồng lao động), cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, người lao động không có hợp đồng lao động, người sử dụng lao động và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động.

Thứ hai, chế độ, chính sách bảo hộ lao động, thông tin, tuyên truyền, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động nhằm phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Luật quy định các biện pháp tổ chức, quản lý liên quan trực tiếp tới quyền lợi người lao động được chi tiết từ Bộ luật lao động, bao gồm: trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động, bồi dưỡng bằng hiện vật, khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp; bổ sung thêm các quy định về nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, giới hạn thời gian tiếp xúc với các yếu tố nguy hiểm, có hại, điều dưỡng phục hồi sức khỏe và việc quản lý sức khỏe người lao động. Luật cũng quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động về việc cung cấp thông tin an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động, người đến thăm quan, làm việc, học nghề, tập nghề tại cơ sở của mình; trách nhiệm cung cấp thông tin về các biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động kèm theo sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn cho người sử dụng trong quá trình lao động, sản xuất. Cần trang bị đầy đủ cho người lao động quần áo bảo hộ cũng như các trang bị khác.

Thứ ba, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Quy định cụ thể trách nhiệm của người sử dụng lao động, cơ quan BHXH đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Ngoài ra, bổ sung quy định các trường hợp đặc biệt được hưởng chế độ như đối với người bị tai nạn lao động, bao gồm: bị tai nạn lao động khi thực hiện nhiệm vụ hoặc tuân theo sự điều hành của người sử dụng lao động ở ngoài phạm vi cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã, nếu do lỗi của người khác gây ra hoặc không xác định được người gây ra tai nạn; bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở theo tuyến đường và thời gian hợp lý, nếu do lỗi của người khác gây ra hoặc không xác định được người gây ra tai nạn… Về quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong Luật quy định cụ thể về nguyên tắc, đối tượng tham gia, mức đóng quỹ; các chế độ cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Trong đó không tăng thêm mức đóng từ phía người sử dụng lao động vào quỹ (vẫn là 1% tổng quỹ lương đóng BHXH); đồng thời bổ sung thêm các nội dung chi hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và hỗ trợ phòng ngừa, chia sẻ rủi ro cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Các tai nạnthường do người lao động quá chủ quan, không ý thức được khi chưa trang bị cho mình mũ bảo hộ trong xây dựng cũng như giày da bảo hộ mũi sắt.

Thứ tư, chế độ khai báo, thống kê, báo cáo, điều tra sự cố nghiêm trọng, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Các quy định về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và khai báo, thống kê, báo cáo, điều tra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được chi tiết hơn so với các quy định tại Bộ luật lao động, được pháp điển hóa từ những quy định, hướng dẫn tại các văn bản dưới luật. Ngoài ra, bổ sung quy định trách nhiệm khai báo tai nạn lao động chết người đối với người lao động không có hợp đồng lao động; trách nhiệm thống kê, báo cáo tai nạn lao động chết người của Ủy ban nhân dân cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp huyện; trách nhiệm Bộ Y tế trong việc gửi kết quả tổng hợp về tình hình bệnh nghề nghiệp về Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Thứ năm, những quy định riêng về an toàn, vệ sinh lao động đối với cơ sở sản xuất kinh doanh

Các quy định về bộ máy tổ chức và những nội dung cơ bản thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh được quy định bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức kiểm tra, thi đua, khen thưởng, thống kê, báo cáo về an toàn, vệ sinh lao động.

Thứ sáu, tổ chức bộ máy thanh tra an toàn, vệ sinh lao động

Có quy định thanh tra an toàn, vệ sinh lao động là lực lượng thanh tra chuyên ngành, do cơ quan thực hiện quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương thực hiện, gồm cấp trung ương và cấp tỉnh. Việc thanh tra an toàn, vệ sinh lao động trong các lĩnh vực phóng xạ, thăm dò, khai thác dầu khí, các phương tiện vận tải đường sắt, đường thủy, đường bộ, đường hàng không và các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân do các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực đó thực hiện với sự phối hợp của thanh tra an toàn, vệ sinh lao động.