Một vài TT của TC BS EN 3-8: 2006 cho bình chữa cháy

Chi tiết tiêu chuẩn BS EN 3-8: 2006 về bình chữa cháy xách tay. Đây là bản bổ sung tiêu chuẩn EN 3-7 về việc xây dựng, sức đề kháng để kiểm tra áp suất và cơ khí cho bình chữa với một áp lực tối đa cho phép nhỏ hơn hoặc bằng 30 bar

Số tiêu chuẩn: BS EN 3-8: 2006

Tiêu đề: Bình chữa cháy xách tay. Yêu cầu bổ sung để EN 3-7 cho việc xây dựng, sức đề kháng để kiểm tra áp suất và cơ khí cho bình chữa với một áp lực tối đa cho phép bằng hoặc thấp hơn 30 bar

Những sản phẩm bình cứu hỏa dạng xách tay trên thị trường Hà Nội hiện nay

Tình trạng: Hiện tại, làm việc trong tay

Ngày: Ngày 31 tháng 1 năm 2007

Tài liệu tham khảo chéo: EN 3-7: 2004, EN 287-1: 2004, EN 1320: 1996, EN 1418: 1997, EN 10204: 2004, EN 13.133: 2000, EN 13.134: 2000, EN ISO 4892-2: 1999, ISO 4892- 2: 2006, EN ISO 9606-2: 2004, ISO 9606-2: 2004, EN ISO 15.614-1: 2004, ISO 15.614-1: 2004, EN ISO 15.614-2: 2005, ISO 15.614-2: 2005, EN ISO 15.614-12: 2004, ISO 15.614-12: 2004, 97/23 / EC

Thay thế: BS EN 3-3: 1996

Quan hệ quốc tế: EN 3-8: 2006

Sửa đổi bởi: Corrigendum, Tháng Ba 2008.

Dự thảo Thay thế: 06/30100042 DC

Mô tả: Bình chữa cháy, di động, thiết bị chữa cháy, áp lực, Bồn áp lực, chất lỏng, bình khí, Thiết kế, kim loại, Loại thử nghiệm, kiểm tra áp suất, kiểm tra Burst, thử nghiệm cơ khí, sản xuất, kiểm tra, đánh dấu

ICS: 13.220.10

Tiêu đề ở Pháp: Extincteurs d’incendie portatifs. Exigences additionnelles à l’EN 3-7 pour la construction, la résistance à la pression et les essais mécaniques pour extincteurs dont la pression maximale admissible est inférieure ou égale à 30 bar

Tiêu đề ở Đức: Tragbare Feuerlöscher. Zusätzliche Anforderungen zu EN 3-7 an die konstruktive Ausführung, Druckfestigkeit, mechanische Prüfungen für tragbare Feuerlöscher mit einem maximal zulässigen Druck kleiner gleich 30 bar

Ủy ban: FSH / 2

ISBN: 978 0 580 60.916 9

Nhà phát hành: BSI

Bộ luật lao động, kĩ thuật an toàn trong công trường xây dựng

Biện pháp an toàn lao động khi phá, dỡ công trình:

–       Trước khi phá, dỡ, phải khảo sát và đánh giá đúng tình trạng của nền móng, các kết cấu như như: cột, dầm, sàn và tường công trình

–       Phải tháo toàn bộ hệ thống điện, nước và các hệ thống kĩ thuật của công trình trước khi phá dỡ công trình.

–       Khi phá dỡ đặc biệt phải quan tâm tới vấn đề tiếng ồn do máy gây ra, ô nhiễm không khí do bụi, đặc điểm về kết cấu và vật liệu công trình, an toàn cho người làm việc và người dân sinh sống gần đấy.

–       Chú ý tới hệ thống hàng rào. Phải sử dụng hệ thống rào kín để tránh sự chú ý của người bên ngoài công trường và công nhân trong công trường nhìn ra. Phải có báo hiệu, băng cảnh báo cho người phía ngoài.

–       Nên có các giải pháp ngăn bụi như dùng lưỡi bao che hoặc phun nước liên tục vào vị trí phát sinh nhiều bụi.

–       Không nên đốt các phế thải trên công trường mà nên vận chuyển đi nơi khác.

§  Biện pháp an toàn lao động khi xếp, dỡ và vận chuyển vật liệu

–    Công nhân phải đủ sức khỏe.

–    Cần hướng dẫn phương pháp nâng các vật nặng cho người lao động.

–    Mỗi công việc liên quan tới bốc xếp và vận chuyển cần lập phương án và biện pháp cụ thể nhằm đảm bảo an toàn cho người và thiết bị thi công.

–    Xe chở vật liệu phải thấp hơn thành xe ít nhất 10cm.

–    Khi xếp vật liệu vào vị trí tập kết, nền hoặc bãi phải bằng phẳng, phải có lối ra và vào cho máy móc thết bị.

–    Vị trí tập kết vật liệu tốt nhất là ở trong kho, nếu không thì phải có mái che mưa, nắng.
–    Đảm bảo đầy đủ các trang thiết bị: quần áo bảo hộ lao động, mũ bảo hộ tiêu chuẩn, giày da mũi sắt .

§  An toàn lao động khi thi công phần ngầm công trình

1.      Gia cố nền: Công trình được xây dựng trên nền đất không quá yếu và trong quá trình gia cố nền các nguy cơ gây tai nạn chủ yếu là xuất phát từ các máy móc thi công, đặc biệt là đối với người lái máy.

2.      Thi công cọc ép:

–          Một số lưu ý

+ Hệ giá ép đặt trên mặt đất không cân bằng và ổn định nên bị nghiêng khi đối trọng bê tông được cẩu lên, dẫn tới giá ép bị đổ và gây tai nạn lao động.

+ Các đối trọng bê tông bị lệch, không thẳng hàng, dẫn tới hệ đối trọng mất cân bằng, bị trượt và rơi từ trên cao xuống người làm việc ở dưới.

+ Kích thủy lực bị vỡ phớt dầu, hoặc đường ống dẫn dầu bị vỡ do áp lực bơm dầu vượt quá mức cho phép.

–          Biện pháp đề phòng tai nạn

+ Thường xuyên kiểm định các thiết bị như: máy bơm dầu, kích thủy lực hoặc đồng hồ đo.

+ Các bước trong quá trình thi công cọc phải được lập và kiểm tra về mặt an toàn trước khi thi công.

+ Các đối trọng bê tông phải được tính toán và sắp xếp sao cho ngăn nắp, thẳng hàng và sát vào nhau.

+ Nên bơm dầu với áp lực bằng 0,7 lần áp lực danh định của máy bơm dầu để tránh vỡ ti dầu hoặc hở phớt của kích thủy lực.

+ Vị trí móc dây cáp để cẩu cọc phải đúng vị trí quy định của đơn vị sản xuất cọc.

+ Công nhân không có nhiệm vụ nên đứng xa vị trí thi công một khoảng bằng một lần chiều dài đoạn cọc đang ép cộng với 2m.

3.      Thi công đóng cọc

–          Một số lưu ý:

+ Các phần đệm đầu cọc bị vỡ, hoặc cọc bị vỡ, nát trong quá trình búa đóng vào đầu cọc và rơi trúng người làm việc ở phía dưới.

+ Các mối nối bằng bulông hoặc hàn của búa hay giá búa bị lỏng và tuột trong quá trình thi công, làm cho một bộ phận nào đó hoặc cả hệ búa rơi xuống dưới gây tai nạn.

+ Cọc bị rơi trong quá trình cẩu lắp vào vị trí đóng do đứt hoặc tuột dây cáp.

–          Các biện pháp đề phòng tai nạn lao động:

+ Tuân theo đúng các biện pháp về an toàn của nhà sản xuất máy đóng cọc.

+ Kiểm tra mọi chi tiết của máy trước khi vào làm việc.

+ Các đường ống cung cấp hơi, khí nén hay dầu thủy lực của máy móc đóng cọc phải được thí nghiệm trước khi thi công với áp suất lớn hơn 2 lần áp suất lúc làm việc.

+ Đối với dây cáp để treo cọc phải có hệ số an toàn ít nhất là 8.

+ Khi thi công phải kiểm tra , điều chỉnh vị trí cọc và giá búa sao cho búa đóng vào đúng tim cọc, không được đóng lệch.

+ Trong quá trình đóng cọc, luôn quan sát nếu  thấy các tấm đệm đầu cọc có hiện tượng nứt hoặc hỏng thì phải dừng thi công và thay tấm đệm khác.

4.      Thi công cọc khoan nhồi hoặc cọc barrette

–          Một số lưu ý:

+ Người lao động bị trượt ngã hố đào trong quá trình thi công.

+ Đất đào lên văng vào người khi gầu đào lắc để ra hết đất trong gầu, đặc biệt nguy hiểm khi đất văng vào mặt.

+ Ống bê tông bị đứt trong khi rút ống và văng vào công nhân, gây tai nạn.

–          Các biện pháp đề phòng tai nạn lao động:

+ Công nhân đeo khẩu trang, găng tay, kính và mũ bảo hộ lao động.

+ Ống vách phải đặt cao hơn mặt đất khoảng 50cm và có sàn làm việc cho công nhân.

+ Công nhân phải có hệ thống thu lại dung dịch bentonite trào ra khỏi lòng hố đào, cố gắng giữ cho công trường luôn khô ráo để giảm nguy cơ người bị trượt ngã xuống hố.

+ Đề phòng tai nạn về điện khi sử dụng máy hàn để gia công cốt thép của cọc, như phải thực hiện nối đất cho máy.

+ Luôn chú ý tới ống đổ bê tông, đề phòng bị tuột đột ngột trong quá trình rút ống.

5.      Thi công tường vây tầng hầm công trình

–          Một số lưu ý:

+ Tường vây tầng hầm bị sập đổ một phần hay hoàn toàn và đè vào những công nhân đang làm việc ở dưới.

+ Tai nạn lao động xảy ra trong lúc thi công hệ thống chống đỡ tạm của tường vây.

+ Hệ văng chống tạm không khả năng chịu lực và bị biến hình hoặc mất ổn định, dẫn tới cả hệ văng chống và tường vây bị sụp, gây tai nạn lao động.

+ Công nhân làm việc hoặc leo trèo trên các thanh chống ngang của tường vây tầng hầm mà không đeo dây an toàn hoặc không có giàn giáo nên có thể bị trượt ngã.

–           Các biện pháp đề phòng tai nạn lao động:

+ Đối với việc thi công tường vây tầng hầm, việc tính toán  để đảm bảo cho tường vây đủ khả năng chịu được tải trọng ngang của nước ngầm, của đất và tải trọng của công trình bên cạnh là phải do những kỹ sư chuyên nghiệp thực hiện. Việc thi công cần đúng các thiết kế đó.

6.      Đào đất hố móng

–          Một số lưu ý:

+ Vách đất bị sụp, đổ và đè lên người ở dưới.

+ Người bị ngã xuống hố.

+ Đá, đá lăn hoặc rơi từ trên bờ hố xuống người làm việc dưới hố.

+ Người lao động bị ngạt do hơi hoặc khí độc.

+ Tai nạn lao động do đào phải bom, mìn, đường dây cáp điện hoặc các đường ống ngầm.

+ Tai nạn lao động khi khoan hoặc đào đất bằng phương pháp nổ mìn.

+ Đề phòng vách đất bị sụp, lở thường xảy ra 3 trường hợp sau:

·         Đào hố/ hào có vách thẳng đứng mà không có hệ gia cố và chống vách đất:

Chỉ được đào hố/ hào với vách thẳng đứng ở đất nguyên thổ, có độ ẩm tự nhiên, không có mạch nước ngầm và xa các nguồn chấn động với chiều sây nhỏ hơn hoặc bằng chiều sâu tới hạn mà tiêu chuẩn xây dựng đã quy định

Trong suốt quá trình thi công, phải thường xuyên xem xét tình hình ổn định vững chắc của vách hố/ hào. Nếu thấy ở trên vách có các vết rạn nứt có thể bị sụp, lở thì phải ngừng công việc, công nhân phải lên khỏi hố/ hào ngay và có biện pháp kịp thời chống đỡ chỗ đó hoặc phá cho đất chỗ đó sup, lở luôn để tránh nguy hiểm sau này

Khi đào hố/ hào sâu với vách đứng, tuyệt đối không được đào kiểu hàm ếch

·         Đào hố/ hào vách đứng và có chống vách:

Khi đào hố/ hào ở những nơi đất bị xáo trộn, mực nước ngầm cao và vách đào thẳng đứng thì phải chống vách đất.

Đối với các hố/ hào có độ sâu lớn, viêc chống vách phải được thực hiện thành nhiều đợt từ trên xuống, mỗi đợt cao ừ 1÷ 1,2m (Tùy thuộc vào chiều cao của người công nhân)

Trong quá trình đào đất thủ công hay bằng máy móc hôặc khi tiến hành các công việc khác trong lòng hố móng, cố gắng không va chạm mạnh tới hệ văng chống vì có thể làm xê dịch vị trí hoặc hư hỏng các bộ phận của hệ này

·         Đào hố sâu có mái dốc: Độ dóc của vách hố/ hào phụ thuộc vào từng loại đất cụ thể

+  Đề phòng người bị ngã xuống hố:

Khi đào hố/ hào sâu, công nhân lên xuống phải dung thang hoặc tạo bậc đất lên xuống.

Không nên nhảy qua hay leo trèo trên kết cấu văng chống vách đất.

Không nên nhảy qua hay leo trèo trên kết cấu văng chống vách đất.

Khi phải đứng làm việc trên mái dốc thì công nhân phải đeo dây an toàn và dây an toàn này phải được móc nối với các cọc giữ chắc chắn.

Khi đào hố/ hào ở nơi có nhiều người đi lại thì cần có rào ngăn chắc, buổi tối phải có đèn đỏ báo hiệu.

+ Đề phòng đất đá lăn hoặc rơi từ trên cao xuống.

Đất/ đá đào từ dưới lên, khi đổ lên hồ phải để xa mép hố/ hào.

Hố/ hào đào gần đường đi lại thì xung quanh mép hố cần dựng ván để ngăn không cho đất hay vật rơi xuống hố.

Trong lúc nghỉ giải lao mọi người không được ngồi dưới hố.

Khi đào đất bằng máy đào, trong lúc máy đang hoạt động, cấm công nhân đứng trong phạm vi tầm quay của tay cần máy đào.

+  Đề phòng ngạt thở do khí độc

Khi đào hố/ hào nếu phát hiện thấy hơi hoặc khí khó thở,….thì phải ngừng hoạt động công việc. Mọi người tránh xa chỗ đó hoặc phải lên bờ ngay để tránh nguy hiểm xảy ra. Chỉ khi nào xong, bảo đảm không còn hơi, khí độc hoặc nồng độ không khí không còn nguy hại tới sức khỏe thì mới tiếp tục thi công. Trường hợp vẫn làm việc trong điều kiện  có hơi, khí độc thì công nhân phải sử dụng mặt nạ chống khí độc, bình thở ôxy,….

Trước khi làm việc ở hố/ hào sâu, phải kiểm tra không khí xem có hơi, khí độc bằng dụng cụ đo chuyên dụng. Nếu thấy bình thường thì người mới được xuống làm việc.

Khi phát hiện có hơi khí độc thì phải dùng quạt hay máy hút khí để giải tỏa.

§  An toàn khi thi công phần thân công trình

1.      An toàn lao động trong gia công cốp pha

–          Một số lưu ý:

+ Công nhân có thể bị chấn thương do sử dụng các máy gia công hoặc dụng cụ thủ công

+ Các nguy cơ gây tai nạn lao động khi sử dụng máy và thiết bị

2.      Các biện pháp đề phòng tai nạn lao động trong gia công cốp pha

–          Khi cưa hoặc xẻ gỗ bằng máy cưa đĩa, tuyệt đối chấp hành nội quy an toàn khi sử dụng

–          Các công cụ thủ công phải chắc chắn, an toàn và tiện lợi

3.      An toàn lao động trong gia công cốt thép

.3.1.         Các nguy cơ gây tai nạn lao động trong gia công cốt thép.

–          Người làm việc bị vảy sắt hoặc gỉ sắt bắn vào mắt.

–          Khi cắt hoặc uốn thép bằng máy, có thể xảy ra các tai nạn do máy cuốn hay kẹp vào tay công nhân. Mà nguyên nhân có thể do tình trạng máy không tốt, bị hỏng hóc, không có đầy đủ thiết bị an toàn và không thực hiện nối đất chống điện giật.

–          Các thanh thép bị đứt và tuột trong quá trình căng và kéo để đánh gỉ hoặc để cắt, uốn và quật hoặc văng vào người làm việc, đặc biệt nguy hiểm khi đầu thanh thép văng vào người làm việc.

–          Khi chặt cốt thép thủ công bằng búa để đập lên đục và chạm, rất đễ xảy ra tai nạn do búa va chạm vào tay người giữ cán vì người quay búa không chính xác hoặc do búa gãy khiến búa tuột khỏi cán, hai đầu cốt thép chặt văng bắn vào người.

–          Khi uốn thép bằng vam trên bàn uốn, có thể xảy rat a nạn khi kéo vam làm bàn uốn bị nghiêng đổ hay chốt tựa bị bật ra làm công nhân mất đà ngã hay cốt thép văng vào người.

.3.2.         Các biện pháp đề phòng tai nạn lao động trong gia công cốt thép:

–          Công nhân phải thực hiện nghiêm chỉnh nội quy an toàn khi sử dụng máy và thiết bị xưởng gia công cốt thép.

–          Trước khi làm việc cần cho máy chạy không tải để kiểm tra.

–          Bụi và vẩy kim loại phát sinh khi đánh gỉ và uốn cốt thép cần được don sạch khỏi bàn gia công hoặc máy gia công bằng cách dung bơm hút hoặc dùng chổi quét. Cấm dung tay, ngay cả khi có đeo găng tay để phủi bụi và vẩy sắt.

–          Để đề phòng vẩy hoặc gỉ sắt bắn vào mắy và làm xước tay, khi làm việc công nhân phải đeo kính và găng tay bảo hộ lao động.

–          Đối với máy cắt dẫn động cơ khí, cấm cắt các đoạn cốt thép ngắn hơn 30cm nếu không có bộ phận che chắn bảo vệ.

–          Đối với máy uốn, chỉ được dịch chuyển vị trí và chèn cốt thép, đặt lại chốt và cữ chặt trên máy lúc đĩa máy không quay.

–          Các loại máy gia công cốt thép đều phải thực hiện nối đất hoặc nối không để đảm bảo an toàn điện.

–          Cốt thép đã được gia công xong cần xếp gọn vào nơi quy định, không được để trên máy, bên cạnh máy hay trên lối đi lại.

–          Để đề phòng cốt thép bị đứt do bị căng quá mức khi kéo, trên cáp kéo phải có thiết bị đo lực căng hoặc đơn giản hơn có thể dung đối trọng với trọng lực cân bằng với sức yếu yêu cầu

–          Để đề phòng cốt thép bị tuột, đầu cốt thép phải được cố định vào đầu cáp kéo bằng thiết bị kẹp, không được nối theo cách buộc.

–          Để tránh cốt thép bị tuột đứt, tuột và văng quật vào người, công nhân không được đứng gần cốt thép khi đang kéo căng. Khu vực kéo căng cốt thép phải được rào ngăn không được để người lạ vào. Khi cốt thép đã được kéo thẳng phải từ từ hãm tới để giảm lực căng cho tới khi dừng hẳn, khi đó công nhân mới có thể tới gần và tháo đầu cốt thép ở kẹp và lấy đầu cốt thép đã dược nắm thẳng ra

4. An toàn lao động khi trộn bê tông bằng máy trộn cưỡng bức

4.1. Nguy cơ gây tai nạn:

–         Công nhân đứng dưới gầu nạp nhiên liệu khi gầu đang nâng lên mà chưa được cố định vững có thể gầu bất ngờ xịt xuống khi phanh bị tuột hay cáp giữ bị đứt.

–         Công nhân vô tình hay cố ý cho xẻng vào thùng trộn khi máy đang quay.

–         Sửa chữa máy ngay trong lúc máy đang hoạt động.

4.2 Các biện pháp đề phòng tai nạn:

–         Chỉ cho phép công nhân nào đã qua đào tạo chuyên môn và huấn luyện an toàn lao động mới được vận hành và phục vụ máy trộn.

–         Chỉ làm sạch hố và gầu nạp nhiên liệu của máy trộn sau khi đã cố định chắc gầu ở vị trí nâng.

–         Công nhân không được đứng dưới gầu khi chưa được cố định chắc chắn.

–         Máy trộn phải được thực hiện nối đất để đề phòng điện giật do chạm mát.

–         Không sửa chữa các hỏng hóc của máy trộn bê tông khi máy đang hoạt động.

5.An toàn lao động khi lắp dựng và tháo dỡ cốp pha

      5.1. Các nguy cơ có thể gây tai nạn

–       Công nhân bị ngã khi lắp đặt và tháo dỡ cốp pha do chỗ làm việc không bảo đảm an toàn không sử dụng dàn giáo, có sử dụng dàn giáo nhưng chất lượng của chúng không đảm bảo an toàn về điều kiện chịu lực và ổn định nên bị gãy và đổ; sàn thao tác không có lan can bảo vệ, đứng thao tác ở những nơi chênh vênh nguy hiểm mà không đeo dây an toàn,…

–       Cốp pha, dụng cụ và vật liệu bị đổ hoặc rơi từ trên cao xuống do việc lắp đặt hệ thống cốp pha không đúng quy trình kĩ thuật.

–       Cốp pha, dụng cụ hoặc vật liệu bị đổ hoặc bị rơi từ trên cao xuống do việc tháo dỡ hệ thống cốp pha không đúng quy trình kĩ thuật

–       Ném hoặc vứt gỗ ván, cột chống và các bộ phận của hệ thống cốp pha từ trên cao xuống

–       Dẫm phải đinh hay va quệt vào các cạnh sắc nhọn của cốp pha do sau khi tháo dỡ xong không thu xếp gọn gang vào đúng nơi quy định.

5.2 Các phương pháp đề phòng tai nạn lao động khi lắp dựng hệ thống cốp pha

–         Đề phòng cốt pha bị sụp đổ khi gia công chế biến và lắp đặt, phải thực hiện theo đúng thiết kế và chỉ dẫn của kĩ sư công trường

–         Khi làm việc công nhân phải đeo dây an toàn và dây an toàn phải cố định vào các bộ phận và kết cấu vững chắc

–         Khi lắp cốp pha có độ cao từ 1,5m trở lên so với mặt đất hay sàn nhà, công nhân phải đứng trên sàn thao tác chắc chắn, được bắc trên khung đỡ, giáo ghế và giáo cao, có lan can bảo vệ ít nhất là 1m và hai thanh chắn ngang cách nhau 30cm

–         Khi lắp đặt cốt phha cột hay cốt pha rầm có độ cao 5,5m, có thể dung giáo ghế di động, nếu cao hơn 5,5m thì dung giáo cao.

–         Đối với cốp pha trượt thì tất cả các bộ phận của cốp pha trượt phải được chế tạo, lắp đặt theo đúng bản vẽ thiết kế đã được duyệt

–         Khi lắp cốp pha tấm lớn theo nhiều đợt, chỉ được lắp đặt đợt trên sau khi cốp pha đợt dưới đã được cố định chắc chắn.Cốp pha ghép sẵn thành khối hay tấm lớn phải đảm bảo vưngc chắc và khi cẩu lắp bằng máy trục phải tránh va chạm vào các bộ phận kết cấu đã được lắp trước

–         Những bộ phận chống đỡ cốp pha cần được đặt trên nền chắc chắn, tránh bị lún trong quá trình thi công

5.3 Các biện pháp đề phòng tai nạn khi tháo dỡ hệ thống cốp pha

–         Chỉ được tháo dỡ cốp pha sau khi bê tông của kết cấu đã đạt cường độ cho phép và được phép của cán bộ phụ trách

–         Khi tháo dỡ phải thực hiện theo trình tự từ trên xuống dưới, tháo dần từng bộ phận không được kéo sập đồng thời từng mảng lớn.

–         Khi tháo dỡ cốp pha từ trên cao công nhân phải đứng trên sàn thao tác an toàn. Nơi nào không có sàn công nhân phải đeo dây an toàn được móc vào kết cấu vững chắc.

–         Cốp pha, cột chống và thanh giằng sau khi tháo gỡ xong phải đưa ngay xuống sàn, không được đặt gác lên các bộ phận chưa được tháo dỡ và phải xếp gọn gàng không làm cản trở việc đi lại, gây va vấp và dẫm phải đinh đối với người làm việc. Khi cần đưa xuống thấp, phải chuyển từng bộ phận. Cấm ném các bộ phận của hệ thống từ trên cao xuống

–         Xung quanh những chỗ tháo dỡ cốp pha ở trên cao, để đề phòng các bộ phận rơi vào người làm việc hoặc qua lại ở phía dưới, phải làm sàn che chắn, có rào ngăn và biển báo.

–         Trong khi tháo cốp pha, phải thường xuyên quan sát tình trạng các bộ phận kết cấu, nếu cọ hiện tượng kết cấu biến dạng như võng hoặc nứt thì phải ngừng tháo và báo ngay cho cán bộ kĩ thuật thi công biết.

6. An toàn lao động khi lắp dựng cốt thép

6.1 Các nguy cơ có thể gây ra tai nạn lao động khi lắp dựng cốt thép

–           Công nhân bị các đầu thanh thép đâm vào tay do không đeo găng tay khi buộc thép

–           Hệ khung và lưới thép sau khi buộc xong được cẩu lắp vào vị trí. Do đó có thể có nguy cơ các chi tiết liên kết của hệ khung hoặc các lưới thép đó bị tuột hoặc bật ra, đặc biệt là với hệ lưới thép nặng mà liên kết của các chi tiết là hàn dính. Dây cáp có thể bị tuột hoặc đứt trong khi lắp hệ khung hoặc lưới thép

–           Cốt thép chất lên hệ ván khuôn quá nhiều và tập trung cục bộ, khiến một phần hoặc toàn bộ hệ ván khuôn có thể bị hỏng hoặc sập.

–           Công nhân buộc cột thép trên các cột, dầm và sàn ở trên cao có thể bị trượt ngã

–           Công nhân hoặc máy vận chuyển các thanh thép ở trên cao gần các dây điện nên có thể bị phóng điện hoặc chạm phải dây điện trần.

6.2 Các biện pháp đề phòng tai nạn lao động khi lắp dựng cốt thép

–         Khi liên kết cốt thép bằng phương pháp buộc, phải sử dụng móc buộc. Công nhân đeo găng tay trong quá trinh buộc.

–         Khi lắp đặt cốt thép các kết cấu như cột, dầm hoặc tường ở trên cao, công nhân phải đứng trên sàn thao tác vứng chắc có lan can an toàn. Không được bám trên các khung hoặc lưới thép của cột, dầm hoặc tường đó để thi công

–         Khi lên xuống phải có thang cố định chắc chắn, không được leo trên khung hoặc lưới thép.

–         Không được chất cốt thép trên sàn công tác hoặc trên hệ thống cốp pha quá tải trọng cho phép trong thiết kế.

–         Trước khi đưa các khung lưới cốt thép đến vị tríi lắp đặt, phải kiểm tra các mối hàn, mối buộc và các điểm treo buộc khi sử dụng dây cáp để cẩu và vận chuyển

–         Khi dựng lắp cốt thép gần đường dây dẫn điện, trường hợp không cắt được điện phải có biện pháp ngăn ngừa cốt thép chạm vào dây điện

7. An toàn lao động trong công tác đổ bê tông

7.1 Các nguy cơ gây tai nạn lao động lao động trong công tác đổ bê tông

–         Hệ cốp pha và cột chống không đảm bảo khả năng chịu lực nên bị sập một phần hay toàn bộ trong quá trình đổ bê tông.

–         Sàn hoặc ván bắc cầu đi lại không chắc chắn hoặc quá yếu làm cho công nhân trong lúc vận chuyển bê tông bị ngã

–         Các hốc để vận chuyển bê tông có kích thước không phù hợp khiến người công nhân không chịu nổi trọng lượng của bê tông sau một thời gian làm việc.

–         Các hốc có thể không chắc chắn nên bị bục, vỡ trong khi công nhân đang vận chuyển bê tông.

–         Tư thế nhấc hốc lên vai hoặc đầu người công nhân không đúng, làm cho họ đau xương sống lưng, đau đầu,…

–         Thùng đổ bê tông quá yếu nên có thể bị bục hoặc thủng trong quá trình cẩu và vận chuyển

–         Cửa đổ bê tông bất ngờ mở ra do chốt khóa của thùng bị tuột hoặc hỏng

–         Dây cáp cẩu thùng đổ bê tông có thể bị tuột hoặc đứt trong khi vận chuyển thùng đổ bê tông

–         Công nhân có thể bị điện giật trong khi đầm bê tông bằng máy đầm do dây điện bị hở hoặc vỏ máy đầm bị chạm mát điện

–         Khi sử dụng máy bơm bê tông, cần máy bơm chạm phải dây điện ở gần công trường, làm cho công nhân đang làm việc có thể bị điện giật.

7.2 Các biện pháp đề phòng tai nạn lao động trong công tác đổ bê tông

–       Trước khi đổ bê tông các bộ kĩ thuật phải nghiệm thu tình trạng cốp pha, cốt thép, cột chống đỡ và sàn thao tác để đề phòng sự cố gãy và đổ hệ cốp pha.

–       Lối qua lại phía dưới khu vực đang đổ bê tông phải có rào ngăn và biển cấm. Trường hợp bắt buộc có người qua lại thì phải có tấm che ở phía trên lối qua lại đó

–       Ván sàn để công nhân vận chuyển bê tông phải chắc chắn và ổn định

–       Trước khi vận chuyển bê tông bằng cần trục, phải kiểm tra an toàn với cần trục, thùng đựng vữa bê tông phải kín, chắc chắn, cửa thùng phải có chốt then cài để tránh bê tông phải kín, chắc chắn, cửa thùng phải có chốt then cài để tránh bê tông bị tụt ra bất ngờ

–       Khi đổ bê tông từ độ cao trên 1,5m xuống, để tránh hiện tượng phân tầng, có thể dùng ống vòi voi hay máng nghiêng để đổ,công nhân phải đứng trên sàn thao tác vững chắc và có lan can an toàn

–       Khi đổ bê tông ở những bộ phận kết cấu có độ nghiêng từ 30 ͦ trở lên công nhân phải đeo dây an toàn.

–       Khi thi công bê tông ngoài trời,phải có lán che mưa nắng, ban đêm phải có đèn chiếu sáng

–       Khi đầm bê tông bằng đầm rung, phải có biện pháp đề phòng điện giật và giảm tác hại do rung động của máy đối với cơ thể

–       Trước khi làm việc, vỏ đầm rung phải được nối với phích cắm chuyên dụng, dây dẫn để cấp điện phải có vỏ bọc bằng cao su.

–       Trong lúc sử dụng đầm bàn, không dùng tay ấn trên đầm

–       Khi di chuyển đầm bàn, cần dùng dây kéo mềm, không được nắm vào dây dẫn điện hay cáp điện để kéo vì dây có thể bị đứt và người sẽ bị điện giật

–       Khi nghỉ giải lao hoặc đi ra khỏi nơi làm việc phải tắt máy đầm

–       Khi bảo dưỡng bê tông phải dùng dàn giáo hoặc giá đỡ, nếu làm vào ban đêm hoặc những bộ phận kết cấu bê tông bị che khuất thì phải có đèn chiếu sáng

8. An toàn lao động trông công tác lắp ghép

      8.1 Các nguy cơ gây tai nạn lao động

–       Sử dụng cần trục để lắp cẩu không đáp ứng với các thông số yêu cầu về trọng lượng, khoảng cách và chiều cao lắp đặt các kết cấu nên dẫn tới trục bị quá tải, ta cần bị với, cấu kiện bị kéo lê hoặc chạm vào các kết cấu đã được lắp đặt trước, gây sập đổ công trình hay gãy đổ cần trục

–       Cấu kiện cẩu lắp đặt bị rơi do sử dụng các dụng cụ và phương pháp trèo buộc không đúng kĩ thuật

–       Cấu kiện bị đổ, rơi khi điều chỉnh và cố định vào vị trí thiết kế

–       Người ngã từ trên cao xuống do đứng làm việc trên sàn thao tác mà không đeo dây an toàn

–       Lắp ghép mà không đúng trình tự kĩ thuật, không đảm bảo sự ổn định của từng cấu kiện hay của từng bộ phận công trường đã lắp ghép dẫn tới sập đổ hệ cấu kiện

–       Công nhân phục vụ công tác lắp ghép vi phạm nội quy, kỉ luật lao động và nội quy an toàn lao động

8.2 Các biện pháp đề phòng tai nạn lao động

–         Bố trí và sắp xếp các cấu kiện trên mặt bằng cẩu lắp:

–         Bố trí và sắp xếp các cấu kiện trên mặt phẳng cẩu lắp

–         Đề phòng cấu kiện bị rơi khi treo buộc

–         Đề phòng tai nạn lao động khi cẩu chuyển cẩu kiện

–         Đề phòng cấu kiện đổ hoặc rơi đúng lúc hạ, đặt và điều chỉnh

–         Đề phòng tai nạn lao động khi lắp ghép các cấu kiện thép

–         Đề phòng tai nạn lao động khi lắp ghép các cấu kiện bê tông cốt thép

9. An toàn trong công tác xây tường

9.1 An toàn khi xây móng:

–         Trước khi làm việc ở hố móng phải kiểm tra tình trạng đất hoặc hệ kết cấu chống vách để xem có dấu hiệu gì mất an toàn không

–         Dọc theo bờ hố móng phải chừa lại một giải đất trống rộng ít nhất 0,5m, trên đó không được chất đống đất đào lên hoặc chất vật liệu để chuẩn bị xây móng, không bố trí máy móc nặng hoặc cho xe đi vào

–         Vật liệu vữa phải được đựng trong các thùng chứa vững chắc để vận chuyển

–         Không được ồ ạt nén gạch đá xuống hố

–         Cấm làm việc hoặc vận chuyển vật liệu trên miệng hố trong khu vực đang có người làm việc ở dưới nếu không có biện pháp an toàn.

–         Khi cẩu chuyển vật liệu xuống hố phải hạ từ từ, cấm người đứng dưới thùng chứa vật liệu khi đang di chuyển hay đang hạ xuống, chỉ được đến gần khi nó đã hạ xuống thấp cách chỗ đặt khoảng 20÷ 30 cm

–         Khi công nhân xây tường nếu móng bị ngập nước do mưa thì phải bơm hoặc tát nước lên trước khi tiếp tục công việc

–         Không được lấp đất một bên móng trước khi vữa cứng hoàn toàn

9.2 An toàn khi xây tường

–         Trước khi xây phải xem xét tình trạng phần tường cũng như tình trạng các phương tiện làm việc, kiểm tra việc bố trí vật liệu và vị trí công nhân làm việc trên sàn thao tác đảm bảo an toàn

–         Khi xây tường có độ cao trên 1,2m phải đứng trên ghế có thành chắn, tường có độ dày 33cm trở lên phải bắc giáo cả 2 bên trong và ngoài tường, khi xây tường cao ttrên 7m phải bố trí tấm che bảo vệ ở phía ngoài bằng tấm ván che, khi lắp đặt và tháo dỡ tấm ván che này công nhân phải đeo dây an toàn

–         Cấm sử dụng tấm che làm giàn giáo, đi lại và xếp vật liệu trên đó

–         Cấm xây tường quá 2 tầng nhà khi tầng giữa chưa có sàn tầng hoặc sàn tạm

–         Khi xây mái đua nhô ra khỏi tường 30cm phải có giá đỡ con sơn

–         Cấm đứng, đi lại hay để bất kì vậy gì trên mặt tường đang xây

–         Vật liệu gạch vữa chuyển lên sàn thao tác từ 2m trở lên phải dùng các thiết bị nâng

–          Chỗ nhận vật liệu phải chắc chắn, mép sàn công trình và sàn của bàn nâng không được cách nhau quá 5cm

–         Vận chuyển vật liệu trên hành lang và sàn giàn giá, mép sàn phía ngoài phải có lan can an toàn

–         Trong 1 ngày, một đợt xây không xây quá 1,2m. Khi xây nếu có mưa to, giông hoặc gió cấp 6 trở lên phải được che đậy, chống đữ khối xây cẩn thận

10. An toàn lao động trong công tác trát

10.1 Các nguy cơ tai nạn

–         Các mảng vữa trần rơi xuống mặt người công nhân do nền trát quá ẩm khiến vữa trát bị chảy

–         Nên sử dụng biện pháp trát bằng máy

–         Vòi phun vữa có thể bị hở hay thủng khiến vữa phun vào người công nhân

10.2 Các biện pháp đề phòng tai nạn lao động

–         Chỉ được tiến hành công tác trát trong sau khi lắp đặt xong khung cửa, vách ngăn, hộp thông gió và các công việc xây lắp chuyên môn khá,…

–         Chỉ được tiến hành trên các loại giàn giáo hoặc giáo ghế với lan can an toàn chắc chắn cả 4 phía

–         Chỉ được phép dùng thang treo ở những nơi riêng biệt, có khối lượng ít

8 biện pháp tăng cường an toàn lao động trong xây dựng.

  1. Phát triển văn hóa an toàn ở phạm vi quốc gia: 

Các dự án xây dựng không hoạt động độc lập với xã hội mà tại đó chúng đang tồn tại. Dù cho những người quản lý dự án có quyết tâm như thế nào trong việc đảm bảo một công trường an toàn và vệ sinh, họ sẽ hầu như không thể làm được việc đó nếu văn hóa hiện hành của quốc gia đó có quan niệm  “sinh mạng là rẻ mạt”. Việc phát triển một nền văn hóa ATLĐ hiệu quả phải được bắt đầu từ các cấp cao nhất trong hệ thống chính quyền và phải được áp dụng trong toàn bộ hệ thống, từ chính phủ tới người sử dụng lao động và người lao động.

  1. Các nhà tài trợ cần nhấn mạnh việc thực hiện ATLĐ trong hợp đồng.

Mục đích của tất cả các dự án có vốn tài trợ từ bên ngoài là nhằm nâng cao chất lượng sống của công dân nước sở tại, và điều này bao gồm cả sức khỏe và sự an toàn của những người tham gia vào hoạt động xây dựng. Bởi vậy, các tổ chức tài trợ này cần xác định rõ sứ mệnh của mình, đưa ra những yêu cầu về thực hiện an toàn lao động, vừa đảm bảo tiến độ của công trình đầu tư, vừa bảo vệ người lao động và vừa tạo được uy tín cho chính doanh nghiệp.

  1. Phát triển một hình mẫu tổng thể, toàn diện về một trường hợp đầu tư vào ATLĐ.

Trong các thảo luận về ATLĐ, chi phí luôn là một trở ngại lớn nhất ở rất nhiều công ty xây dựng tại các nước đang phát triển. Tuy nhiên, sẽ là hợp lý khi biện luận rằng có thể coi đầu tư vào ATVSLĐ như một khoản đầu tư hiệu quả, nếu nơi làm việc của họ được thiết kế hợp lý, họ sẽ làm việc hiệu quả hơn nhiều.

Một ví dụ cụ thể như, khi những giàn giáo được dựng tạm thời dẫn đến gây chết người hoặc xảy ra tai nạn lao động nghiêm trọng, dự án xây dựng sẽ phải chịu ngoài các chi phí bồi thường, bị ảnh hưởng bởi trì hoãn. Bên cạnh đó, còn có các yếu tố khác như tên tuổi, hình ảnh – những yếu tố cạnh tranh của công ty – cũng sẽ bị tổn hại, và công ty còn phải chịu thêm các chi phí về bảo hiểm.

images704395_7_Tai_nan
Người lao động VN vẫn chưa trang bị cho mình đầy đủ trang thiết bị làm việc như: dây an toàn hay mũ bảo hộ lao động.

  1. ATLĐ phải được chủ động thực hiện từ khâu thiết kế:

Hầu hết các hoạt động xây dựng đều được lập kế hoạch theo cách này hay cách khác, ATLĐ phải được quản lý một cách chủ  động, như một phần không thể tách rời của quá trình lập kế hoạch, và nếu không thể tìm được một biện pháp xây dựng an toàn, đội xây dựng cần phản hồi lại với bên thiết kế và giúp họ chỉnh sửa lại thiết kế.

“An toàn từ khâu thiết kế” là một chủ đề đang chiếm được sự quan tâm trên khắp thế giới, với mục tiêu loại bỏ  hoàn toàn hoặc giảm tối đa các nguy cơ và rủi ro bằng việc thiết kế cẩn thận, an toàn, đồng thời, vẫn đạt được các yêu cầu về vận hành và các chức năng khác của dự án.

  1. Người lao động cần chủ động tham gia vào quá trình xây dựng và cam kết thực hiện ATLĐ

Cần thay đổi tư tưởng truyền thống cho rằng người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với sự an toàn của người lao động. Để tạo nên điều kiện làm việc an toàn, chính những người lao động cũng cần được tham gia một cách chủ động vào công tác ATLĐ và hợp tác với những người chủ của họ. Do công nhân hiểu rõ nhất công việc của mình, đây chính là những người phù hợp nhất để đưa ra các quyết định về cải thiện điều kiện làm việc và an toàn trong lao động.Tuy nhiên, để người lao động tham gia vào hoạt động này một cách hiệu quả, những điểm sau là hết sức quan trọng: sự hỗ trợ từ pháp luật, sự khuyến khích từ các nhà quản lý, sự ủng hộ của hệ thống công đoàn, các hoạt động huấn luyện và sự tham gia tích cực của chính bản thân người lao động.

tập huấn

  1. Cần đa dạng các loại thiết bị bảo vệ cá nhân (TBBVCN) để phù hợp với văn hóa  và vóc dáng của người lao động.

Hiện nay, hầu hết TBBVCN sẵn có đều được thiết kế cho vóc dáng của những người châu Âu/phương Tây.  Tại nhiều quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng, việc sử dụng  TBBVCN sẵn có là không phù hợp. Bên cạnh đó, việc sử dụng các loại quần áo, phương tiện thiết kế cho khí hậu ôn hòa trong các điều kiện nóng ẩm cũng là một vấn đề quan trọng cần được xem xét. Điều này ảnh hưởng đến việc thực thi An toàn lao động.

  1. Cần phát triển hơn nữa về mặt công nghệ để cải thiện ATVSLĐ, bao gồm các hệ thống cảnh báo và kiểm soát, các thiết bị thông tin liên lạc và các loại máy móc an toàn hơn

Các loại máy móc thiết bị xây dựng hiện đại đang được sử dụng ngày càng nhiều. Khi được vận hành bởi lực lượng lao động không có tay nghề và chưa qua đào tạo, các loại máy móc này có thể dẫn đến tai nạn chết người. Do đó, các nhà sản xuất và nhà cung cấp cần đảm bảo chắc chắn rằng máy móc và thiết bị được thiết kế càng an toàn càng tốt, và phải kết hợp được với các thiết bị an toàn trong thực tế sản xuất.
Cần phải có những báo hiệu hay băng cảnh báo cho người lao động được biết.

  1. Đào tạo và huấn luyện ATVSLĐ thường xuyên để tăng cường một cách hiệu quả nhất các kỹ năng, nhận thức và thái độ của người lao động

Các bài giảng về quy định có thể phù hợp, tuy nhiên cũng cần những người làm công tác đào tạo và huấn luyện phải có kiến thức thực tế về công việc xây dựng; họ nên là “những người hướng dẫn luôn bên bạn” hơn là “những nhà hiền triết trên sân khấu”.

Băng báo cáp điện lực Hà Nội tiêu chuẩn tối ưu.

Hà Nội, một trung tâm kinh tế văn hóa giáo dục của Việt Nam đang chuyển mình rõ rệt. Các công trình điện lực được khởi công, cải tạo mới ngày càng nhiều lên. Các cột điện cao thế, hạ thế được thay hoàn toàn bằng các tuyến đường cáp ngầm phía dưới lòng đất. Đảm bảo cho các hệ thống cáp điện lực đó hoạt động thông suốt và ổn định  phải có các hệ thống báo hiệu, cảnh bảo cho người lao động cần biết. Băng báo cáp điện lực Hà Nội, sản phẩm tiêu biểu điển hình của công ty bảo hộ lao động Thiên Bằng chỉ dành riêng cho nội thành thủ đô Hà Nội.

Sản phẩm: chính hãng công ty bảo hộ lao động Thiên Bằng sản xuất, có logo công ty in chuẩn phía trên dải băng báo.
Chất liệu tổng hợp từ hai hợp chất hữu cơ chính gồm OPP và MCCP.

Quy cách sản phẩm: 500m 1 cuộn.

Sử dụng: Đặt phía trên đường cáp điện ngầm.

Ngoài sản phẩm băng báo cáp điện lực Hà Nội, còn rất nhiều các sản phẩm khác.
Dây an toàn bảo hộ, mũ bảo hộ lao động giá tốt, giẻ lau công nghiệp uy tín đảm bảo.

Địa chỉ:

Cơ sở 1: Km 12 – Quốc Lộ 32 – Cầu Diễn – Từ Liêm – TP. Hà Nội (cạnh siêu thị EBEST MALL)

Điện thoại: 04.6660.9897

Cơ sở 2: Số 69/335 Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – TP. Hà Nội ( Bùng Binh Khuất Duy Tiến – Nguyễn Trãi)

  Điện thoại : 04.3551.0888
Hotline:  0985.991.707- 0985.992.401


Thiên Bằng, bảo hộ niềm tin !

Chuyên cung cấp các loại băng báo cáp, mốc báo cáp các loại

Hiện nay, khi các công trình xây dựng không thể tránh khỏi ảnh hưởng của các tuyến cáp phía dưới, đặc biệt là cáp điện lực. Mốc báo cáp, tưởng chừng là đơn giản nhưng hiệu quả của nó mang lai rất lớn. Công ty bảo hộ lao động Thiên Bằng, chuyên cung cấp và phân phối các loại băng báo cáp tiêu chuẩn, chất lượng trong đó có mốc báo cáp.

[img]https://lh3.googleusercontent.com/b6ykA1UyXyq-21e1_CQPgInoRkEBAiBcBSeGwUCcFT0=w209-h180-no[/img]

Mốc báo cáp đặt phía trên mặt đất, được làm bằng sứ, có kích thước rất nhỏ gọn. Khi đưa vào sử dụng, mốc báo cáp chỉ để lộ phần mặt báo hiệu và bằng mặt đất.
Chịụ được lực tác động vật lý rất lớn nên có thể đặt mốc báo cáp ngay phía trên mặt đường đi. Sử dụng báo hiệu phía dưới có cáp điện chạy qua.

Ngoài ra còn nhiều sản phẩm khác:
Dây an toàn và dây treo bảo hộ, mũ bảo hộ, mũ vải lao động. giẻ lau công nghiệp hàng đầu tại Hà Nội
website:http/baoholaodongthienbang.com/

Địa chỉ:

Cơ sở 1: Km 12 – Quốc Lộ 32 – Cầu Diễn – Từ Liêm – TP. Hà Nội (cạnh siêu thị EBEST MALL)
Điện thoại: 04.6660.9897

Cơ sở 2: Số 69/335 Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – TP. Hà Nội ( Bùng Binh Khuất Duy Tiến – Nguyễn Trãi)
Điện thoại : 04.3551.0888

Hotline: 0985.991.707- 0985.992.401
Thiên Bằng, bảo hộ niềm tin !